Hồi ký của KQ Trần Ðình Giao, De Couteau

 

 

                 Một đời người, hai lần di cư. Lần đầu, ngày 20 tháng 4 năm 1955, rời quê quán miền Bắc, từ Hải Phòng vào Sàigòn bằng phi cơ Dakota (C 47) của Không Quân Pháp. Lần thứ hai, ngày 29 tháng 4 năm 1975, giã từ quê hương miền Nam tự do, từ thủ đô Sàigòn sang Subic Bay (Philippines) bằng tàu Hải quân VNCH, rồi được C130 của Không Lực Mỹ chở tới đảo Guam và sau cùng được  nhập cảnh Hoa Kỳ bằng Boeing 707 của hãng hàng không Pan Am.

  Cả hai cuộc di cư (hay di tản) đều vì một lý do đơn giản : tránh nạn cộng sản tìm tự do. 

 

                                                ++++++++++++++++

 

 CUỘC DI CƯ LẦN ÐẦU : Hà Nội, Bắc Việt Nam 1954.

 

             8 tháng 5 năm 1954, sau khi Ðiện Biên Phủ thất thủ, tướng De Castries và hàng ngàn quân nhân Việt Pháp bị bắt làm tù binh, hội nghi quốc tế Genève được triệu tập để thảo luận về một giải pháp đình chiến và chấm dứt chiến tranh Ðông Dương. Lúc này, tôi đang học trường Trung học Nguyễn Trãi và sắp thi Tú Tài 2 thì nhận được giấy gọi nhập ngũ theo học khóa 5 Sĩ quan Trừ bị Thủ Ðức cùng với ông anh tôi và nhiều bạn học cùng lớp. Cũng trong thời gian này, Không Quân  gửi Thiếu Úy Nguyễn Trung Sơn (1) ra Hà Nội mở cuộc thi tuyển mộ sinh viên theo học các khóa Sĩ quan KQ ở trường Salon de Provence và chuyên viên kỹ thuật mọi ngành tại các trường Hạ sĩ quan ở bên Pháp. Tôi vốn mê Không quân từ lâu rồi nên quyết tâm không đi Thủ Ðức để chờ lấy xong bằng Tú Tài sẽ thi vào trường Salon. Tôi nộp đơn xin hoãn dịch và được chấp thuận cho triển hạn 6 tháng. Ðùng một cái, mẹ tôi lâm trọng bệnh  phải vào bệnh viện Bạch Mai điều trị và qua đời vào giữa tháng 5. Những biến cố rồn rập xẩy đến đã ảnh hưởng đến tinh thần tôi, kỳ thi cuối tháng 5, sau khi đậu phần thi viết, vào vấn đáp tôi bị giáo sư Hoàng Cơ Nghị đánh rớt môn Lý-Hóa. Thế là mộng đi Salon không thành trong khi hai anh bạn cùng lớp là Nguyễn Tú và Nguyễn Dương (2) sau khi đậu, đã được gửi đi khám sức khỏe, làm thủ tục sang Pháp theo học quân trường cao quí nhất của Không Quân Pháp. Tôi và một số bạn chẳng may thi rớt bàn chuyện tương lai vì trước sau cũng bị động viên nhập ngũ. Những người không thích đi Bộ Binh (sợ thì đúng hơn), nộp đơn xin học các trường Rochefort, Chamberry, Oxford ...sang Tây nói là đi trả thù dân tộc. Trong số những anh bạn này có Dương Hùng Cường (3) Ðinh Văn Quảng, Phan Thanh Tùng, Trần Ðình Bào. Một số đi khóa 5 trừ bị Thủ Ðức, một số thích binh nghiệp tình nguyện vào Trường Sĩ quan Ðà Lạt. Riêng tôi, vì đã được triển hạn nên tôi chờ 3 tháng nữa để thi lại vấn đáp rồi tính sau. 

             20 tháng 7 - 1954, hiệp định Genève được ký kết, nước Việt Nam được tạm chia đôi lấy vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải) làm ranh giới, miền Bắc được đặt dưới sự thống trị của cộng sản VN, miền Nam do người Việt quốc gia và Pháp kiểm soát. Ông Ngô Ðình Diệm được mời từ Hoa kỳ về nước làm Thủ Tướng, thành lập chính phủ quốc gia. Quân đội Quốc gia VN và quân đội Pháp phải rút hết vào miền Nam  hạn chót là ngày 15 tháng 5 năm 1955, cửa khẩu cuối cùng là Hải Phòng. Rồi với sự giúp đỡ của người Mỹ, một cuộc di cư lớn nhất lịch sử của 1 triệu người Bắc Việt Nam không chấp nhận chế độ cộng sản đã được thực hiện trong giai đoạn này. Ngày 20 tháng 8-1954, tôi đưa hai người em ruột vào Sàigòn. Sau khi thu xếp gửi hai em  ở với gia đình  một bà bác, tôi trở lại Hà Nội với ý định tìm tin tức của một người anh ruột đã đi kháng chiến chống Pháp từ năm 1944 khi anh đang học trường Trung học Thăng Long ở Hà Nội. Sau 1 tháng trời về quê nội ở Nam Ðịnh, quê ngoại ở Hà Nam dò hỏi, cuối cùng tôi đã tìm được đơn vị anh tôi phục vụ ở một chiến khu trên tỉnh Thái Nguyên. Ngày 19-9-54, tôi đi xe đò lên Thái Nguyên rồi thuê xe thổ mộ theo tỉnh lộ vào sâu trong rừng hơn 5 cây số, qua nhiều trạm giao liên, tôi được dẫn tới gặp anh tôi trong một căn nhà tranh vách đất nhỏ ở ven một khu rừng. Anh em gặp lại nhau sau 10 năm xa cách biết bao mừng tủi. Tôi kể cho anh tôi biết ba đã mất năm 1949, mẹ mới qua đời sắp được 100 ngày, chị Mai đang làm việc ở Ty Y-tế Hải Phòng, anh Chương bị động viên đang thụ huấn khóa sĩ quan trong Thủ Ðức, hai em Thủy, Phan đã theo trường vào Sàigòn, còn tôi mong gặp anh rồi mới quyết định. Nghe tôi kể chuyện gia đình xong, anh tôi nói : “Anh rất buồn vì đã thiếu bổn phận và trách nhiệm với gia đình, nhưng vì tình hình chưa cho phép và nghĩa vụ với đất nước chưa xong nên anh chưa về đoàn tụ với chị và các em được”. Anh cũng khen tôi còn trẻ mà đã biết lo liệu cho các em chu toàn. Anh cũng kể sơ cho tôi biết là năm 1944, sau khi đậu Tú Tài, anh ra bưng theo kháng chiến chống Pháp. Anh được gia nhập Trung đội kháng chiến đầu tiên và đã trải bao phen vào sinh ra tử trong nhiều chiến dịch đánh Pháp nhưng nhờ trời phù hộ và ân đức tổ tiên, anh vẫn sống sót và tiếp tục công tác đến ngày hôm nay. Cuối cùng, thời giờ gặp thân nhân đã hết, anh em tôi bùi ngùi chia tay. Anh tôi gửi lời thăm chị Mai và các em, chúc tôi về bình an và cho biết đơn vị anh đang chờ ngày về tiếp thu thủ đô Hà Nội , hy vọng anh em sẽ lại gặp nhau sau . 

 Tôi trở về Hà Nội vào lúc cuộc di chuyển các cơ quan chính phủ, quân đội và di cư dân chúng vào Nam đang lên tới mức cao độ. Hai phi trường Bạch Mai (quân sự) và Gia Lâm máy bay vận tải Dakota cất cánh liên tục chở tài liệu, dụng cụ và nhân viên chính quyền vào Sàigòn. Xe lửa ngày đêm chở dân chúng di cư xuống Hải Phòng rồi được các tàu Hải quân Pháp, chiến hạm Marine Serpent, và hai tàu buôn lớn Ville de Sàigòn,Ville de Hải Phòng chở vào Nha Trang, Vũng Tàu. Tổng Ủy Di cư được thành lập do ông Mai Văn Hàm phụ trách có trách nhiệm thực hiện cuộc di cư cho đến thời hạn chót là ngày 15- 5- 1955

 Ngày 10-10-54, tôi được chứng kiến đoàn quân cộng sản tiến vào thủ đô Hà Nội ở cổng Ô Quan Chưởng. Tôi nán lại vài ngày đi xem triển lãm vũ khí bộ đội cộng sản tịch thu được trong trận Ðiện Biên Phủ trưng bày ở sân vận động gần Quốc tử giám phố Hàng bột.Thời gian này, trạm kiểm soát cuối cùng của chính phủ quốc gia rút xuống tỉnh Hải Dương chặng giữa của quốc lộ 5 nối Hà Nội và Hải Phòng. Tôi cũng có ý muốn gặp anh tôi để hỏi về nhiều chuyện liên quan đến chính sách của cách mạng đối với người dân và nhất là đối với những đảng phái quốc gia không theo Việt Minh cộng sản. Chủ thuyết “tam vô” (vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc) và những giai thoại về những cuộc đấu tố (con tố cha mẹ, vợ tố chồng, học trò tố thầy...) trại tù Lý Bá Sơ ở Thanh Hóa v.v...vẫn là những thắc mắc đè nặng tâm can tôi. Không tìm được anh tôi ở Hà Nội, cuối tháng 10, tôi và mấy người bạn thân di chuyển xuống Hải Phòng ở với bà chị tôi đang làm việc ở Ty Y-tế thành phố. Chúng tôi ghi tên tình nguyện làm việc cho Tổng Ủy Di cư và được giao nhiệm vụ lập danh sách học sinh, sinh viên và đồng bào tình nguyện di cư, hướng dẫn họ tới phi trường Cát Bi lên đi máy bay hay đưa xuống tàu Hải Quân để được chở vào Nam.  Ngày 20- 4- 55, tôi và hai mẹ con bà chị tôi ghi tên theo một chuyến phi cơ Dakota rời Hải Phòng bay vào Sàigòn.  

 Lần đầu tiên trong đời, tôi đã làm một quyết định quan trọng : dứt khoát bỏ nhà cửa quê hương, bỏ thủ đô Hà Nội yêu quí, bỏ cả ông anh ruột mới gặp lại sau 10 năm xa cách, để tìm đến một phương trời mới trong miền Nam, sống cuộc sống tự do .

 

                                    +++++++++++++++++++++++++++++++++

 

                                                       20 năm sau...

 

 CUỘC DI TẢN VÀ DI CƯ LẦN THỨ HAI : Sàigòn, Nam Việt Nam 1975.   

 Căn cứ 20 Chiến thuật KQ Phan Rang :Ngày 14- 3- 75, Quân Ðoàn 2 và Sư Ðoàn 6 KQ được lệnh đột ngột rút khỏi Pleiku. Ngày 15- 3- 75, tôi được lệnh Sư Ðoàn 2 KQ chuẩn bị cho Sư Ðoàn 6 KQ về đồn trú. Không Ðoàn Yểm cứ Phan Rang đã phải làm việc ngày đêm để dồn phòng sở, cư xá và các phương tiện chuyển vận chia một nửa cho đơn vị bạn. Ngày 16- 3- 75, đoàn phi cơ trực thăng của các PÐ 229, 235, và biệt đội A1 của SÐ6KQ từ Nha Trang bay vào Phan Rang. Một cuộc họp bất thường được tổ chức tại BCH Căn cứ dưới sự chủ tọa của Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang TLSÐ6KQ. Sau phần thuyết trình tình hình an ninh phòng thủ căn cứ, tôi đích thân hướng dẫn Tr/Tá Phạm Bá Mạo (KÐT/KÐYC Pleiku)tiếp nhận các phần sở, cư xá và quân xa dành cho SÐ6KQ để các đơn vị có thể bắt đầu điều hành công việc ngay. Và chỉ trong 24 tiếng đồng hồ, hai đại đơn vị đã hoạt động hửu hiệu 100%. Phi cơ của các phi đoàn 524, 534, 548, 229, 235 đã cất cánh liên tục bay yểm trợ quân bạn, chuyển quân, tải thương và oanh kích các vị trí tập trung quân cộng sản BV. Ngày 20- 3- 75, Ban Mê Thuột thất thủ, tiếp theo tin Quân Ðoàn 1 rút khỏi Huế và Ðà Nẵng ngày 24- 3- 75 làm quân nhân Vùng 2 và Vùng 1 vô cùng mất tinh thần. Ngày- 21- 3- 75, phái đoàn Bộ Tư Lệnh KQ Trung-Tướng Trần Văn Minh và các Tham mưu trưởng, Tham mưu phó ra thăm căn cứ duyệt xét tình hình. Trong buổi họp giải trình, tôi đã xin ông TLKQ cho tôi được từ chức KÐT/KÐ Yểm cứ Phan Rang, nhường quyền chỉ huy cho Tr/Tá Phạm Bá Mạo KÐT/KÐYC Pleiku thuộc SÐ 6 KQ vì một căn cứ có hai Không Ðoàn Yểm cứ, khó làm việc. Ðề nghị của tôi được chấp thuận, tuy nhiên theo yêu cầu của Chuẩn Tướng Tư Lệnh SÐ6KQ, tôi phải ở lại 2 tuần lễ để chỉ dẫn cho Tr/Tá Mạo am hiểu tình hình phòng thủ căn cứ, các liên hệ phối hợp an ninh tình báo lãnh thổ với Tiểu Khu Ninh Thuận và các quận lỵ xung quanh căn cứ. Ngày 24- 3- 75, tôi được cấp 1 chuyến C 130 di chuyển gia đình về Sàigòn. Gia đình tôi tạm trú tại nhà người em ruột ở đường Trương Minh Giảng. Sau đó tôi trở lại Phan Rang làm việc cho tới hết hạn biệt phái 3 -4-75. Tình hình Vùng 2 ngày một nguy ngập, Chuẩn Tướng Trần Văn Cẩm chỉ huy cuộc rút lui của Quân Ðoàn 2 từ Pleiku về Cung Sơn Vạn Giả theo liên tỉnh lộ số 7 bị quân cộng sản phục kích và bị bắt. Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù trấn giữ đèo Khánh Dương bị Sư Ðoàn F 10 Bắc Việt tấn công dữ dội phải rút về Nha Trang rồi sau được đưa vào tăng cường Phan Rang. Ngày 1- 4- 75, Sư Ðoàn 2 KQ và TTHLKQ Nha Trang di tản về Tân Sơn Nhất. Ngày 3- 4- 75, Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt do Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ chỉ huy rút từ Ðà Lạt theo đường bộ qua Phan Rang về Phan Thiết. Thấy tình hình càng ngày càng bi đát, tôi gọi Ðại Tá Nguyễn Ðình Giao, TMT/SÐ6KQ cho biết thời hạn biệt phái của tôi đã hết, rồi xin KÐ 92CT cấp cho một A37 đưa tôi về Sàigòn. Ðáp Tân Sơn Nhất, tôi vào BTLKQ trình diện và được Thiếu Tướng Tư Lệnh Phó Võ Xuân Lành chỉ thị tạm thời hàng ngày vào Phòng HQCC nghe morning briefing rồi  xuống Phòng Kế hoạch Chương trình túc trực. Tôi xin được nghỉ phép mấy ngày để lo sắp xếp chuyện gia đình. Bước ra khỏi phòng Tư Lệnh phó, tôi gặp Trung Tá Chu Trọng Ðể (chánh văn phòng TLP) rồi chạy xuống Phòng Hành quân chiến cuộc tìm hai anh bạn cố tri là Phong “híp” và Nhương “gà tồ” hỏi thăm tình hình căn cứ Tân Sơn Nhất. Vừa thấy mặt tôi, Nhương la lên: ”ê ! Giao Couteau mày về bao giờ thế ? tụi tao tưởng mày bị kẹt ngoài Phan Rang rồi “. Tôi đáp:”tao vừa về tới, vào trình diện Tướng Lành được chỉ thị từ tuần tới, mỗi ngày phải vào Phòng HQCC nghe thuyết trình rồi muốn làm gì thì làm”. Tôi hỏi Phong và Nhương công việc hàng ngày có bận lắm không ? Phong nói:”chán lắm Giao ơi, ngày nào cũng nghe toàn tin rút lui và các đơn vị di tản xin yểm trợ, tình hình mỗi lúc một thêm bết bát chẳng biết tương lai đi về đâu?”.Tôi bảo hai anh bạn :” tao được nghỉ hết tuần, cần về nhà gặp vợ con đã, sáng thứ hai gặp lại tụi mày”, rồi gọi xe hậu trạm nhờ đưa về nhà. Tôi được hưởng 4 ngày sống trọn vẹn với gia đình mà không phải bận tâm về công vụ. Nhờ có chiếc xe jeep civil cũ tôi mua lại của một anh bạn nên có phương tiện hàng ngày chở vợ và hai con tôi đi thăm bà con, bạn bè và quan sát tình hình thủ đô. Ði đến đâu cũng nghe toàn những tin tức giật gân như phật giáo, công giáo xuống đường biểu tình đòi Tổng Thống Thiệu phải từ chức, Hoa Kỳ cúp viện trợ, quyết định bỏ rơi VNCH v.v...dân chúng đổ xô đi tìm những “tuyau” chạy chọt kiếm phương tiện chạy theo Mỹ hay đi Pháp, Canada... 

             Sáng thứ hai 12-4-75, tôi vào BTLKQ dự lễ chào cờ rồi theo Phong, Nhương về Phòng HQCC nghe thuyết trình. Buổi họp buồn tẻ và kéo dài không tới nữa tiếng đồng hồ. Phần thuyết trình của BCH/HQKQ và quân báo toàn những tin rút lui và thất trận của các đơn vị bạn trên khắp chiến trường. Sau buổi morning briefing, tôi lái xe chạy sang BCH Hành Quân KQ thăm Ðại Tá Ước. Ở đây, tôi gặp một số bạn như Tr/Tá Quách Ðịnh Hảo, Tr/Tá Giang,Th/tá Tú và anh cựu Ðại-Tá Lê Minh Luân (4) .  Tôi cho anh Ước biết là vừa được về BTL và đang trong tình trạng ngồi chơi xơi nước. Anh Ước bảo tôi rảnh cứ ghé lại đây chơi. Rời TACC, tôi ghé Liên Ðoàn Kiểm Báo thăm anh Ð/Tá Phạm Duy Thân, các anh Tr/Tá Nguyễn Văn Duy-Ninh, Cung Ðình Mộc, Nguyễn Cầu và anh em kiểm báo. Ðây là phần sở duy nhất tôi thấy ai cũng mang vũ khí cá nhân, nón sắt hai lớp, áo giáp trong tình trạng báo động 100% sẵn sàng tác chiến. Sau khi thăm hỏi mọi người, tôi chạy sang Trung Tâm Y Khoa thăm mấy anh bạn bác sĩ Trần Bá Cơ, Phạm Gia Lữ, Vũ Hữu Bao,Vũ Xuân Bôi. Gặp tôi, ai cũng hỏi tình hình Nha Trang, Phan Rang anh em ra sao ? ... 

 Cứ như thế, ngày nào tôi cũng phải vào căn cứ Tân Sơn Nhất để nhìn thấy những khuôn mặt lo âu buồn nản. Khu huấn luyện Sư đoàn 5 đông nghẹt những quân nhân và gia đình KQ các SÐ1, SÐ2, SÐ6 và TTHLKQ từ Ðà Nẵng, Nha Trang, Pleiku di tản về đứng ngồi la liệt, trông rất tang thương. Rồi những tin tức bất lợi dồn dập tới mỗi ngày làm tinh thần mọi người càng hoang mang lo sợ. Ngày 15- 4, Sư đoàn 3 Sao vàng CSBV tấn công Phan Rang. Ngày 16- 4, căn cứ  20CT Phan Rang bị tràn ngập, Tr/Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Ch/Tướng Phạm Ngọc Sang (TLSÐ6KQ), Ð/Tá Nguyễn Thu Lương (Lữ Ðoàn Dù) bị quân cộng sản bắt. Tr/Tá Lê Văn Bút (KÐT/KÐ 72CT) và Tr/Tá Sung (KÐBTTL) trốn được về Phan Thiết xin phương tiện cứu cấp về Sài Gòn. Ngày 22- 4, đài phát thanh quốc gia loan tin Tổng Thống Thiệu từ chức nhường quyền lãnh đạo đất nước cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Rồi trong căn cứ có tin BTLKQ đã có kế hoạch di tản gia đình KQ ra nước ngoài bằng phương tiện của KQ và DAO (5) theo thứ tự ưu tiên cho các ngành Khu trục, Trực thăng, Quan sát, Vận tải và chót hết là những phần sở khác theo chức vụ và cấp bậc. Tôi chạy lên gặp Ðại Tá Ðỗ Văn Ri chánh văn phòng Tư Lệnh KQ nộp danh sách gia đình xin di tản. Ri hỏi số phone của tôi để gọi khi có phi vụ cho vợ con tôi được đi. Tôi bảo Ri :” tôi ngồi dưới phòng Kế Hoạch Chương Trình của Ð/Tá Vũ Thượng Văn, nếu tôi không có ở đấy thì gọi về nhà”.

 

 Ngày 25 tháng 4, gia đình bốn anh chị em tôi họp mặt để nhận định tình hình và bàn tính tìm phương tiện di tản. Ông anh tôi cho biết đã liên lạc người em cột chèo là Thiếu tá HQ Nguyễn Cao Toàn xin đi theo Hải Quân. Hai mẹ con bà chị và gia đình em Thủy đã xin ông chú vợ là Ðại Tá Ước tìm phương tiện cho đi theo KQ hoặc DAO. Cô em gái tôi có chồng là giáo sư dậy triết ở trung học Petrus Ký phải theo chồng ở lại vì chú em rể tôi là người miền Nam không muốn đi. Mấy người bạn cùng khu phố là các anh Tr/Tá Thái (anh em cột chèo với em tôi) và Ð/tá Dần (cựu Trung đoàn trưởng SÐ 21BB) đi theo “tuyau” bên Quân vận có thuyền đón ở kho 5 bến tầu Khánh Hội đưa ra sà lan chở ra biển lên Hạm đội thứ bảy của Mỹ, nhưng phải đóng tiền bằng đô la hay một lạng vàng một đầu người.

 

 Ngày 27- 4, tôi tiếp tục vào BTLKQ buổi sáng nghe tin tức rồi xuống phòng Kế hoạch “xoa” cho qua thì giờ trong khi chờ điện thoại Ð/tá Ri gọi. Bốn người tụi tôi gồm có anh Ð/tá Hậu Chánh Thanh tra BTLKQ, Tr/Tá Cung Thúc Cần Phòng Kế hoạch BTLKQ và Tr/Tá Ðinh Ðức Bảo già (6) Phòng Kiến tạo, lát sau có thêm Ð/Tá Phan Quang Phúc(7) Tư Lệnh phó SÐ2KQ (anh em KQ Nha Trang thường kêu là anh Năm) vào chơi gió trung. Mọi người vừa xoa vừa bàn chuyện di tản. Anh Phúc nói đã lo cho gia đình đi xong rồi, nhưng còn kẹt bà mẹ già đang bệnh nặng nên chưa biết tính sao ... Anh Hậu thì còn đang phân vân nửa ở nửa đi. Cần thì lừng khừng không phát biểu ý kiến. Riêng cụ Bảo tâm sự : “tôi đã gần sáu mươi, đang chờ giải ngũ, già rồi nên không muốn đi xa, quyết định ở lại”. Ðến đây thì có tiếng chuông điện thoại reo. Cần bốc máy nghe rồi gọi tôi :”ê Couteau có Ðỗ Văn Ri muốn nói chuyện này”. Tôi mừng húm vì đoán là có tin vui rồi, cầm ống nghe tôi nói : “Giao nghe đây”. Ðầu kia tiếng Ri nói : moi đã xếp cho vợ con toi đi ngày mai bằng C 130 của SÐ5KQ, nhớ có mặt ở Trạm HKQS lúc 1 giờ trưa. Tôi cảm ơn Ri rồi quay lại nói với mọi người :”Gia đình tôi được đi trưa mai, tôi phải về nhà để thu xếp hành lý cho vợ con”. Trước khi ra về, tôi bắt tay chào mọi người rồi móc túi lấy ra cây rouleau 5 viên đưa tặng cụ Bảo và nói :” khẩu súng lục nhỏ này của một thằng bạn Special Force Mỹ cho khi tôi còn làm việc trên Pyramid Ban Mê Thuột, tôi tặng cụ để làm vật phòng thân”.  

 Sáng hôm sau 28- 4 , gia đình tôi 4 người ( vợ và hai con trai 6 và 7 tuổi) mỗi người mang theo một túi nhỏ đựng vài bộ quần áo và đồ nhật dụng rồi lên xe jeep trực chỉ Tân Sơn Nhất. Tôi bảo vợ tôi:”hãy còn sớm, chúng mình ghé ăn phở Công Lý rồi vào phi trường cũng còn kịp chán”. Tới tiệm phở, tôi gặp hai anh bạn học cũ là BS Vũ Hoạt va øBS Trần Mộng Liên. Hoạt cho biết gia đình anh sẽ đi theo phương tiện của DAO. Ăn phở xong, tôi lái xe vào THKQS Tân Sơn Nhất. Khi xe vừa đến cổng Lăng cha Cả thì nghe nhiều tiếng nổ lớn phát ra từ phía phi đạo SÐ5KQ và thấy lửa cháy và khói đen bốc lên mù mịt. Tôi dừng xe hỏi anh Quân cảnh:”có chuyện gì vậy, trung sĩ ?”. Anh QC đáp:”Tôi cũng không rõ Trung Tá, hình như là phi cơ địch thả bom căn cứ ?” Vừa lúc đó, tôi thấy một đoàn xe mười mấy chiếc vừa nhà binh vừa dân sự từ hướng tư dinh của Thiếu Tướng Kỳ chạy ra. Trong đám người trên xe, tôi nhận ra có anh bạn thân là Nguyễn Văn Cử (8) và cả gia đình ca sĩ Thái Thanh nữa. Vào đến THKQS gặp Tr/úy Cảnh thì được biết là căn cứ vừa bị phi công phản loạn Nguyễn Thành Trung bay từ Phan Rang về oanh tạc. Phi đạo A 37 của KÐ 92CT nhiều phi cơ cháy, một số vận tải cơ C 130 cũng bị hư hại. Trạm hàng không đông nghẹt quân nhân và gia đình, ai nấy đều ngơ ngác lo lắng. Còi báo động căn cứ hú vang  cùng với tiếng xe cứu hỏa, cứu thương chạy rầm rập. Một lát sau Tr/úy Cảnh dùng microphone thông báo :“ các chuyến bay ngày hôm nay bị hủy bỏ, những hành khách không đi được hôm nay sẽ được ghi vào danh sách standby cho ngày mai nếu có phi cơ khả dụng, mọi người hãy đi về và sáng mai trở lại đây”. Tôi buồn rầu lái xe chở vợ con về nhà. Ðêm hôm đó, tôi không ngủ được vì đài phát thanh và truyền hình Sài Gòn vừa loan báo quốc hội đã họp khẩn cấp yêu cầu cụ Trần Văn Hương trao quyền Tổng Thống cho Ðại tướng Dương Văn Minh . Rồi ông Vũ Văn Mẫu, Thủ tướng chính phủ ra lệnh cấm tất cả mọi người VN không được ra khỏi nước và yêu cầu người Mỹ phải rời khỏi Việt Nam trong 24 tiếng đồng hồ. Tình hình biến chuyển quá mau lẹ, suốt đêm nghe tiếng máy bay trực thăng của TQLC đáp xuống những khách sạn người Mỹ thuê, chở đi những nhân viên Mỹ và những người VN làm việc cho các cơ quan của họ ra hạm đội thứ bảy ngoài khơi Vũng Tàu. Ngoài xa quanh thủ đô, ánh hỏa châu và tiếng súng đại bác vọng về lúc xa lúc gần nghe vừa nản vừa uất hận vì đời tôi chưa bao giờ bị rơi vào hoàn cảnh bị động và bất lực như lúc này! 

              Ðến 6 giờ sáng (29-4), ông anh tôi gọi điện thoại cho biết gia đình anh chiều nay sẽ đi theo Th/Tá Toàn vào BTLHQ bến Bạch Ðằng và di tản theo tàu Hải quân.Tôi nói với anh tôi là nếu bị kẹt không có phi cơ, tôi sẽ đưa gia đình chạy sang Hải Quân xin đi theo. Sau đó, tôi bảo vợ tôi đánh thức các con dậy cho chúng ăn sáng rồi bốn bố mẹ con lại lên xe chạy vào Tân Sơn Nhất. Khi vào tới cổng thì thấy cả một sự hỗn loạn trong căn cứ, đủ các loại xe và người chạy ngược chạy xuôi tìm phương tiện thoát thân. Anh Thượng sĩ Ba QC bảo tôi : “Các ông lớn đi hết cả rồi Trung tá ơi, VC pháo kích vào căn cứ suốt đêm, khu cư xá nữ quân nhân và Trung tâm Y khoa còn đang cháy kìa, ông còn vào làm gì nữa!”. Tôi đang loay hoay nửa muốn vào quan sát tình hình giờ chót, nửa muốn quay trở về chạy sang Khánh Hội theo gia đình ông anh thì thấy Tr/Tá Ðàm Thường Vũ, CHT PÐ F5 ở Biên Hòa chạy Vespa ở ngoài vào. Thấy tôi, Vũ ngưng xe gọi tôi và nói: ”Anh Giao, em còn mấy chiếc F 5, anh đi với em bay phi vụ cuối cùng đánh tụi Việt cộng rồi  sang đáp Utapao bên Thái Lan”. Tôi bảo Vũ: ”Cảm ơn Vũ có lòng tốt cho tôi đi theo nhưng còn chị và hai cháu bé đây làm sao đi được, thôi Vũ tìm chú đàn em nào cho nó tháp tùng, tôi cố xoay xở tìm cách đi sau vậy”. Vũ chào và chúc gia đình tôi may mắn rồi phóng xe vào phi đạo. Tôi bảo vợ tôi :’thế là hết hy vọng đi theo KQ, bây giờ phải về nhà tìm anh Chương và chú Toàn xin đi theo Hải quân ”. Tôi lái xe ra khỏi cổng Lăng Cha Cả quẹo trái ra đường Công Lý chạy về nhà. Xe vừa tới gần cổng Bộ Tổng Tham Mưu thì thấy một người mặc áo bay KQ không đội nón đang đứng bên anh quân cảnh nhìn về hướng Căn cứ TSN, nhìn kỹ lại thì ra là Chuẩn Tướng Nguyễn Ðức Khánh (9) TLSÐ1KQ. Tôi dừng xe, vẫy anh hỏi:”ông bạn làm gì mà giờ phút này còn đứng ngất ngơ ở đây?”. Khánh nói:’tôi vừa được Ð/Tá Kinh CHT Quân cảnh cho lệnh thả về cùng với mấy anh tá Bộ Binh bị Bộ TTM nhốt theo lệnh của Tổng Thống Thiệu từ hôm rút lui Ðà Nẵng đến nay, tình hình trong Tân Sơn Nhất ra sao?”. Tôi chỉ về hướng căn cứ nói:”Các Big chief đi hết rồi, phi đạo tan hoang không còn một phi cơ nào bay được nữa, tôi tính chạy sang Hải quân xin đi theo đây”. Khánh hỏi tôi:’bạn có thể cho tôi đi cùng được không?”. Tôi đáp: ”được chứ, nhưng tôi phải ghé về nhà ở đường Trương Minh Giảng để liên lạc với mấy anh chị em tôi đã rồi mới đi sau”. Khánh bảo:”toi cho moi quá giang một khúc rồi moi tìm phương tiện tự túc vào hải quân vậy”. Tôi mời Khánh lên xe chạy đến ngã ba Trương Tấn Bửu thì ngừng lại và bảo anh: “ông bạn chịu khó xuống đây thuê xe ôm vào HQ trước đi, có gì buổi chiều tụi mình gặp nhau trong bến Bạch Ðằng”. Khánh xuống xe, vẫy một chiếc honda  nhảy lên ngồi gọn trên ghế sau ôm eo ếch người lái xe rồi chiếc xe dọt biến vào dòng xe cộ đủ loại đang chen chúc chạy về hướng Sài Gòn. Tôi lái xe về nhà thì thấy hai mẹ con bà chị và gia đình em Thủy tôi cũng vừa về tới. Tôi hỏi Thủy :”chắc không còn máy bay nên chú phải trở về phải không ?”.Thủy nói:’tụi em nằm chờ ở nhà ông Ước, sau khi căn cứ bị phi cơ phản loạn oanh tạc và VC pháo kích, các đơn vị panic hết, không còn một chiếc phi cơ nào khả dụng được, ông Ước dọt theo trực thăng của Tướng Kỳ, em đành phải đưa nhà em và các cháu về nhà đi theo phương tiện của anh Thái vậy, anh chị có đi với tụi em không ?”. Tôi nhìn em dâu tôi đang bồng cháu bé mới sanh được đúng 3 ngày, mẹ còn yếu, con còn trứng nước mà đã phải vất vả tìm đường chạy giặc CS trông thật tội nghiệp nên trả lời ngay:”Ừ, anh chị sẽ đi cùng với các em”. Thế rồi chúng tôi gọi Thái để dàn xếp đi theo “tuyau” sà lan của Quân vận. Mọi chuyện trôi chảy và được biết điểm hẹn là kho 5 thương cảng Khánh Hội lúc 2 giờ chiều. Trước khi ra đi, chúng tôi trao chìa khóa nhà và giao tất cả nhà cửa, gia tài của mấy anh chị em cho cô em út tôi trông nom và tùy nghi xử dụng. Chúng tôi rời nhà ở đường Trương Minh Giảng đúng 12 giờ,  lái xe chạy theo đường Trương Tấn Bửu, quẹo mặt sang đường Công Lý chạy thẳng xuống Sài Gòn , rẽ trái vào đại lộ Nguyễn Huệ tới đường Tự Do quẹo phải chạy thẳng ra bờ sông vào đường Bạch Ðằng rồi qua cầu sang Khánh Hội. Các đường phố đầy xe cộ và người chạy ngược chạy xuôi xen lẫn với những xe nhà binh, xe cảnh sát cùng tìm đường tháo chạy. Chúng tôi vào đến bến kho 5 thì thấy đã đông nghẹt quân nhân và gia đình cùng nhiều người dân sự đang đứng chờ. Phải mất một lúc lâu mới tìm được chỗ đậu của thuyền đã hẹn. Từng gia đình nộp lệ phí rồi lần lượt xuống thuyền. Sau khi hai gia đình Thái và em tôi xuống trước, đến phiên gia đình tôi thì đột nhiên VC pháo kích vào thương cảng. Những viên đạn súng cối rớt nổ dưới sông nước bắn lên tung tóe. Mọi người đều nằm rạp xuống, cũng may không có viên đạn nào trúng bờ nên không có ai bị thương vong. Mấy phút sau, địch ngưng pháo, tôi nhỏm dậy định đỡ vợ con tôi xuống thuyền thì thấy chiếc thuyền đã ra xa bờ lối hơn 10 thước. Tôi la gọi người lái thuyền trở lại cho gia đình tôi lên thì hắn nói :” VC đang pháo, tôi không thể vô bờ lại, ông cảm phiền chờ chuyến sau, rồi hắn tiếp tục chèo thuyền ra giữa dòng sông. Tôi quay lại bảo vợ tôi:”mình hụt chuyến này rồi, thôi đành chờ vậy”. Ðúng lúc đó có một xe jeep bộ binh do một Ðại tá Bộ binh lái tới hỏi có phải đây là chỗ thuyền đưa người ra sà lan không ? Tôi nhìn lại thì nhận ra là Ð/tá Lại Ðức Nhi Cục ANQÐ nguyên là bạn cùng khóa Chỉ huy Tham Mưu cao cấp với tôi ở Long Bình năm 1973. Tôi bảo anh Nhi:”đúng vậy nhưng vừa rồi VC pháo kích nên nó chạy đi khỏi rồi, gia đình tôi đang chờ chuyến tới”. Nhi nói:’Tôi phải về nhà đón bà xã và mấy cháu rồi sẽ trở lại liền, mà sao bạn là dân KQ máy bay đâu hết rồi mà phải chạy theo đường thủy?”.Tôi cười gượng đáp:”thế mới xấu hổ chứ”. Tôi nôn nóng chờ chiếc thuyền trở lại đón nhưng đợi một lúc thật lâu, nhìn đồng hồ thấy đã gần một tiếng mà không thấy bóng dáng chiếc thuyền đâu cả. Tôi nghĩ ngay đến ông anh đi theo hải quân nên bảo vợ con tôi lên xe chạy qua nhà bà nhạc mẫu anh tôi ở đường Hoàng Diệu Khánh Hội hỏi thăm tin tức. Ðậu xe trước cửa, tôi chưa kịp xuống xe thì bà cụ trông thấy đã chạy ra chỉ tay bảo :’ Chú Toàn vừa về đón gia đình chú Chương và mới đi được chừng 10 phút, chú chạy ngay sang bến Bạch Ðằng  may ra bắt kịp họ”. Tôi cảm ơn bà cụ rồi trở ra xe đi ngay. Khi tôi lái tới đầu đường Hai Bà Trưng thì thấy đường phố dọc theo bờ sông đến Khu Nha Quân Pháp và BTLHQ người đông nghẹt, xe không có chỗ chạy nữa. Quân cảnh Hải quân phải kéo ngựa sắt và giây kẽm gai concertina ngăn không cho dân chúng ùa vào quân cảng, có lúc họ phải bắn M16 chỉ thiên để cảnh cáo những người định vượt qua rào kẽm gai. Tôi bảo vợ tôi ngồi trên xe với các con rồi bước xuống cố len lỏi vào gần để hỏi thăm tìm Th/Tá Toàn thì vừa kịp trông thấy Toàn đang dẫn gia đình ông anh tôi đi bộ về hướng Bộ Tư Lệnh Hải quân. Tôi la thật lớn :” Anh Chương, em Giao đây, anh bảo chú Toàn ra đón tụi em vào với !”. Nghe tiếng tôi kêu, Toàn quay lại, đi tới sát bên hàng rào kẽm gai bảo tôi:” em không thể đón anh chị vào ở đây được vì nếu mở rào là dân chúng a la xô vào sẽ loạn hết, anh chịu khó lái xe ra đường Hai Bà Trưng tìm con đường phía sau nhà máy nước đá, tới khu cư xá sĩ quan hải quân có cái chòi gác, em sẽ cho người ra đón”. Tôi đi trở ra, mở máy xe lái ngược lại đường Tự do tới nhà hàng Thái Thạch rẽ sang Hai Bà Trưng loay hoay mãi mới tìm được tới điểm hẹn.Tôi đậu xe ngay chỗ chòi gác, tắt máy hồi hộp ngồi chờ. May sao, 15 phút sau, thấy anh Thượng sĩ Hải quân đi tới. Anh hỏi tôi có phải là Tr/Tá Giao KQ không ? Tôi đáp:’ vâng, tôi là Tr/tá Giao”. Anh nói:”tôi là Thượng sĩ Tài, Th/tá Toàn nhờ tôi ra đón gia đình Tr/tá vào Bộ Tư Lệnh”. Anh móc trong túi ra một cái kìm, cắt hàng rào kẽm gai một lỗ vừa đủ một người chui qua rồi bảo tôi:” ông bà và các em chịu phiền chui qua lỗ này vào trong này rồi tôi sẽ đưa vào gặp Th/tá Toàn”. Tôi bế hai con tôi xuống xe nhờ Th/sĩ Tài đỡ chúng qua lỗ hổng hàng rào rồi vợ tôi và tôi lần lượt chui vào bên trong. Trong lúc người HSQ rào lại lỗ trống vừa cắt, tôi hỏi anh:”Này Th/sĩ, anh có tính đi  di tản không?”.Tài đáp:”gia đình tôi ở Thủ Ðức, tôi cũng đang nghĩ cách về đón vợ con rồi tìm cách đi theo tầu HQ nếu còn kịp”. Tôi rút trong bị xách tay của vợ tôi ra gói bạc hơn trăm ngàn vừa rút từ ngân hàng Việt Nam thương tín ra tuần trước, đặt vào tay anh và nói:’ đây là số tiền tôi dành dụm được để chi dùng khi cần thiết, nay gia đình tôi đã quyết định ra chạy ra nước ngoài, tiền VN sẽ trở thành vô dụng, vậy tôi tặng tất cả cho Th/sĩ vì anh chưa đón được gia đình, sẽ có nhu cầu cần tiền, chiếc xe đậu ngoài hàng rào, tôi cũng tặng anh luôn làm phương tiện khi di chuyển”. Tôi móc túi lấy chùm chìa khóa xe trao cho anh và dặn thêm:”Thẻ chủ quyền tôi để trong hộc xe, ngoài ra dưới đáy ghế, tôi còn một cây M18 và một khẩu súng lục P 38, tôi cũng tặng anh luôn để làm vật phòng thân”. Người HSQ Hải quân vừa ngạc nhiên, vừa cảm động nói:”cám ơn Tr/tá có lòng tốt quá, nếu có dịp gặp lại, tôi sẽ không bao giờ quên ơn ông, thôi để tôi dẫn ông bà và các em vào trong BTL tìm Th.tá Toàn”. 10 phút sau Toàn tơi đón gia đình tôi vào Câu lạc bộ HQ ngồi đợi giờ lên đường. Toàn bảo tôi:”gia đình anh Chương và gia đình anh sẽ được đi theo chiếc tuần dương hạm số 3, đậu ngay cầu tầu trước BTL, gia đình em sẽ đi trên chiếc tuần dương hạm số 2, giờ lên tầu là 6 giờ và giờ khởi hành là 7 giờ tối, điểm tập trung là vịnh Côn Sơn 9 giờ sáng mai để nhận lệnh di tản sang Subic Bay, Phi Luật Tân”.Toàn dặn tiếp:” anh chị và các cháu nên kiếm đồ ăn cho chắc dạ vì từ đêm nay là cả một cuộc phiêu lưu chưa biết ngày mai ra sao!”.Tôi cám ơn Toàn rồi bảo vợ tôi mua mấy ổ bánh mì thịt nguội cho các con ăn. Vợ tôi còn cẩn thận mua thêm 4 gói mì đem theo phòng ngày mai không có cơm thì cho các con ăn mì vậy. Ðúng 6 giờ, có lệnh xuống bến lên tầu. Các gia đình có con cái được lên trước, những người độc thân lên sau, tuy nhiên khi xuống đến cầu tầu thì ai cũng muốn dành lên boong  tầu trước nên cũng xẩy ra cảnh chen lấn mất trật tự. Tôi phải vất vả lắm mới đưa được vợ và hai con tôi leo lên sàn tầu. Ðộ khoảng một tiếng đồng hồ thì mọi người đều lên hết trên chiến hạm. Từ bến Bạch Ðằng dọc theo bờ sông tới hải quân công xưởng Ba Son, nhiều chiến hạm lớn nhỏ chở đầy gia đình quân nhân di tản lần lượt rời bến. Khi ánh nắng cuối cùng vừa tắt thì chiếc chiến chiến hạm chở chúng tôi cũng từ từ nhổ neo xuôi giòng...Trên bờ dọc theo từ đầu đường Hai Bà Trưng qua cầu Khánh Hội, dân chúng vẫn chen lấn nhau chạy ngược chạy xuôi xuống bờ sông tìm phương tiện tháo chạy. Trên tầu, mọi người kéo nhau ra đứng chật ních hai bên boong tầu để nhìn và ghi vào trong đầu những hình ảnh cuối cùng của thủ đô Sài gòn thân yêu. Trên trời, những phi cơ trực thăng của TQLC Mỹ vẫn liên tục chở những nhân viên (và gia đình) làm việc cho tòa đại sứ và các cơ quan của Hoa Kỳ ra hạm đội thứ bảy ngoài khơi Vũng Tàu. Ngoài xa, từ những thôn xã, quận lỵ, ánh hỏa châu và những lằn đạn bắn lên trời sáng rực từng khu. Chiếc tuần dương hạm chở gần 800 người di tản xuôi dòng âm thầm chạy trong bóng đêm, thỉnh thoảng, một vài chiếc chiến hạm cỡ nhỏ qua mặt làm hiệu nhận nhau bằng ánh đèn theo tín hiệu sê ma pho của hải quân. Khoảng gần 4 giờ sáng, tàu đang chạy êm thình lình nghe tiếng động rung mạnh từ phía mũi tầu rồi chiến hạm ngừng lại. Tiếng động cơ tàu gầm lên tăng vận tốc nhưng con tàu vẫn không nhúc nhích. Mấy sĩ quan hải quân cho biết tàu đang ở vị trí khúc sông Lòng Tào và bị mắc cạn vì nước thủy triều đang xuống. Trung Tá Hùng, hạm trưởng ra lệnh cho tàu vào thế reverse, tăng vận tốc tối đa để lùi ra khỏi vùng sông cạn nhưng chiếc chiến hạm vẫn nằm lỳ. Mọi người nhớn nhác lo sợ vô cùng vì nếu kẹt ở đây đến sáng, tụi Việt cộng khám phá ra mà tấn công thì chắc chỉ có chết hay bị bắt cả nút. Từ đài chỉ huy, sĩ quan truyền tin liên lạc với các chiến hạm khác của HQ cũng đang trên đường di tản ra biển, xin kéo giúp chiếc tàu mắc cạn ra khỏi chỗ kẹt. Cho đến gần 4 giờ sáng, hàng chục chiến hạm chạy ngang nhưng toàn là những tàu nhỏ không đủ lực kéo chiếc tuần dương hạm. May sao khoảng  nửa tiếng sau thì có chiếc hải vậm hạm HQ 802, khi biết là trên chiếc tuần dương hạm có chở nhiều sĩ quan cao cấp HQ và nhiều Tướng lãnh quân đội, vị CHT chiếc hải vận hạm này đã quay tàu trở lại tiếp cứu. Chiếc tầu cứu tinh cặp sát hông chiếc chiến  hạm bị mắc kẹt, những thủy thủ dùng dây cable bằng thép cột hai hông tàu sát vào nhau, sau đó, cả hai tàu cùng trong thế lùi, mở máy tăng vận tốc tối đa. Tiếng động cơ gầm lên vang dội phun khói đen mù mịt thì may mắn thay...chưa đầy một phút đồng hồ, hai chiếc chiến hạm cặp dính vào nhau từ từ lùi lại ra giữa dòng sông, cả tầu reo mừng thoát nạn. 20 phút sau, những sợi dây cable được các thủy thủ tháo gỡ và hai chiếc chiến hạm nối đuôi nhau tiếp tục cuộc hải trình tiến về điểm hẹn. Ðúng 9 giờ sáng ngày 30-4, hạm đội Hải Quân VNCH bốn  vùng chiến thuật đều tập trung tại vịnh Côn Sơn, từ những tầu đổ bộ nhỏ loại LCVP, LCM tới những chiến hạm lớn đếm được hơn 50 chiếc tàu. Từ soái hạm, qua loa phóng thanh, Ðề Ðốc HQ Lâm Nguơn Tánh thông báo các quân nhân và gia đình biết kế hoạch di tản như sau : 

1.        Tất cả các chiến hạm khả dụng sẽ chở quân nhân và gia đình di tản sang Subic Bay (10)

2.       Những quân nhân nào không muốn di tản hoặc những quân nhân nào chưa đón được gia đình sẽ được cấp một số tàu trở về địa phương thu xếp và cố gắng đi sau.

3.       Ðúng 10 giờ, hạm đội sẽ ra khơi trực chỉ Phi Luật Tân và khi ra đến hải phận quốc tế sẽ được Ðệ thất hạm đội của HQ Mỹ hộ tống.

 Ở vào giờ phút này, tôi phải thầm phục Bộ Tư Lệnh HQ đã chuẩn bị tổ chức cuộc di tản cho quân nhân thuộc cấp và gia đình của họ thật chu đáo, ấy là chưa kể hàng ngàn quân nhân và gia đình các quân binh chủng bạn cũng được cấp phương tiện ra đi tránh nạn cộng sản. Mọi người trên tàu thở phào yên tâm chờ giờ khởi hành thì nghe loa phóng thanh cho biết chiếc chiến hạm chở chúng tôi bị hư một máy nên một số người sẽ được đưa sang chiếc tuần dương hạm số 2 cho nhẹ bớt. Gia đình tôi và gia đình ông anh tôi cũng được đổi tàu cùng với mấy chục gia đình các tướng lãnh và sĩ quan khác. Một đoàn 3 chiếc tàu nhỏ loại LCVP chở một số quân nhân xin trở về tìm đón gia đình dưới sự chỉ huy của Ðại Tá HQ Ðỗ Kiểm. Sau đó, hạm đội còn lại được sắp theo đội hình chữ A khởi hành ra khơi lúc10 giờ 30 phút. Và đúng như đã được thông báo, chạy được khoảng 20 hải lý thì gặp Ðệ thất hạm đội của HQ Hoa kỳ, đoàn tàu VN chạy ở giữa, các chiến hạm Mỹ chạy song song ở phía ngoài. Trong lúc mọi người kéo nhau ra đứng chật hai bên boong tàu để tỏ nỗi vui mừng thì thấy một chiếc trực thăng loại UH1 của KQVN chở đầy nghẹt quân nhân và gia đình từ trong bờ bay tới. Phi công là một Ðại úy liên lạc trên tần số hành quân xin đáp khẩn cấp trên chiến hạm vì sắp hết xăng. Các tàu đều chở đầy người di tản, ngoại trừ 2 chiếc tuần dương hạm là lớn nhất, phía mũi tầu có một khoảng trống từ pháo tháp của khẩu đại bác 75 ly đến cột neo đủ chỗ cho chiếc trực thăng đáp, chung cuộc chiếc trực thăng được cho phép đáp xuống tầu số 2. Trong lúc anh phi công lượn vòng trên mũi tàu tìm thế đáp để đổ người xuống thì ông Khánh “khỉ” ở đâu chạy tới chỗ tôi đứng. Chúng tôi cùng hồi hộp theo dõi cảnh tượng căng thẳng, chiếc trực thăng bay từ bên hông tầu vào đúng giữa cột neo thì dừng lại trong thế “hover”, một càng con tàu gối trên cột neo để những quân nhân trên tàu nhảy xuống sàn chiến hạm và tuần tự đỡ thân nhân họ xuống. Sau khi mọi người đã nhảy xuống hết, trên trực thăng chỉ còn một mình anh Ðại úy hoa tiêu, anh kéo con tàu lên cao khoảng 50 bộ rồi mấy giây sau, anh nhảy vọt ra khỏi phi cơ xuống biển trong khi chiếc trực thăng đâm thẳng xuống và từ từ chìm để lại trên mặt nước vài vết dầu loang. Mọi người theo dõi anh phi công thì thấy anh đã ngoi được lên mặt nước, vứt bỏ cái helmet hai tay đập liên tục để khỏi bị chìm miệng gào to kêu cứu. Lập tức, các thủy thủ HQ thả một chiếc thuyền nhỏ bằng cao su xuống nước cùng với hai người nhái bơi thật lẹ đến chỗ người phi công kéo anh lên thuyền. 10 phút sau, anh Ðại úy KQ can đảm được đưa lên tầu cùng với 17 người quân nhân và gia đình trên chiếc trực thăng do anh lái đi tìm tự do. Khánh ghé tai tôi nói :” anh chàng pilot trẻ này lỳ và bay thật lành nghề, đáng được tuyên dương ADBT”. Sau đó, BCH Chiến hạm dùng loa phóng thanh cho biết là cuộc hải hành sẽ dài lối 4 ngày thì tới Subic Bay. Ban binh thực của chiến hạm sẽ cung cấp thực phẩm cho các gia đình mỗi ngày 2 lần trưa và chiều, mỗi gia đình sẽ được cấp một nón sắt để đựng cơm và thức ăn. Riêng về vấn đề vệ sinh, nhiều nhà tiêu tiểu lộ thiên sẽ được thực hiện ở hai bên thành tàu phía đuôi tàu để mọi người xử dụng. Tôi xếp mấy cái túi của bốn bố mẹ con lại một chỗ cho gọn rồi lấy cái radio ra nghe tin tức. Tôi vặn đài phát thanh Quốc gia Sài Gòn thì nghe xướng ngôn viên cộng sản loan tin là xe tăng quân giải phóng BV đã húc sập cổng dinh Ðộc Lập tiến vào Phủ Tổng Thống, Ðại Tướng Dương Văn Minh đa õđầu hàng và bị quản thúc. Rồi chúng cho phát thanh lời kêu gọi quân nhân các cấp QLVNCH hãy trở về đơn vị trình diện, bàn giao vũ khí, doanh trại cho quân giải phóng... nghe mà gần phát khùng ! Tôi tắt radio, ngồi thừ ngẫm nghĩ : thật khó hiểu, tại sao QLVNCH và miền Nam VN lại có thể bị bức tử và sụp đổ nhanh đến như vậy? nước láng giềng nhỏ bé Cam Bốt của Long Non còn cầm cự được đến 6 tháng mới rơi vào tay Pol Pot trong khi quân ta đang chiến đấu chống địch hăng say trên khắp chiến trường thì được lệnh rút lui, gây nên tình trạng hoang mang mất tinh thần từ trên xuống dưới, rồi hậu phương và thủ đô thì nội thù biểu tình gây rối loạn chính trị, ngoài thì đồng minh phản bội, cắt viện trợ, nay nước mất nhà tan còn phải chạy đi theo nó tìm đất sống mới nhục ! Còn đang suy nghĩ lan man thì thấy một gia đình tới chiếm chỗ ngay cạnh gia đình tôi. Ông anh tôi kéo tay nói nhỏ vào tai tôi:” đây là gia đình ông Trung Tướng Nguyễn Ðức Thắng”.Chờ ông thu xếp chỗ nghỉ cho gia đình xong, anh tôi chào và hỏi :”sao Tr/Tg không ở trong phòng SQ chỉ huy của chiến hạm mà lại ra sàn tàu như tụi tôi ?”. Ông Tướng 3 sao trong bộ thường phục với chiếc áo sơ mi cộc tay chim cò, quần khaki, đi dép nhật cười trả lời :” có 8 phòng nhỏ mà tới hơn một chục ông tướng và gia đình thì làm sao có đủ chỗ chứa hết nên gia đình tôi ra boong tầu nằm cho thoáng, dễ chịu hơn “. 

             Cuộc hải trình của hai đoàn chiến hạm Mỹ, Việt tiếp tục vượt biển trực chỉ Phi Luật Tân. Rất may là thời tiết mấy ngày liền tương đối dễ chịu gió êm biển lặng nên đám dân di tản chen chúc trên tàu ít người bị say sóng ói mửa. Trong những buổi đi lấy cơm ở ban hỏa đầu vụ, tôi có dịp trò chuyện với nhiều người. Một ông công chức là Trưởng Ty Ngân khố tỉnh Kiên Giang vác theo một bao tải lớn đựng toàn giấy bạc VNCH. Ông kể:” Tôi nghe lệnh ông Tỉnh Trưởng bảo phải di tản là vội mở kho bạc vét hết mấy chục triệu bỏ vào chiếc bao bố này chạy xuống tàu HQ ra tới đây. Gia đình tôi kẹt ở Sài Gòn không biết ra sao, còn tôi bây giờ một thân một mình ôm cái bao bạc này ra ngoại quốc không biết để làm gì, chắc tôi liệng quách xuống biển cho rồi”. Tôi an ủi ông :” ông bạn thật là một công chức gương mẫu, theo tôi nghĩ ông cứ giữ thêm vài ngày chờ đến Phi Luật Tân xem tình trạng chúng ta ra sao rồi hãy tính”.  

             Ngày 3 tháng 5 là sinh nhật tôi đúng 41 tuổi. Khánh đến rủ tôi lên phòng chỉ huy chiến hạm kiếm ly cà phê rồi ra dứng tựa boong tầu tán gẫu và trao đổi tin tức về những người anh em trong các đơn vị KQ. Anh cho tôi biết là gia đình anh đã bay sang Montreal từ đầu tháng 4 rồi nên không phải lo lắng gì hết, chỉ chờ khi đến Hoa kỳ anh sẽ xin đi định cư ở Canada. Riêng tôi và gia đình thì đành để “gone with the wind” chờ cho người Mỹ sắp xếp vậy. 

             Ngày 4 tháng 5, loa phóng thanh từ BCH chiến hạm thông báo đoàn tầu di tản sẽ đến hải phận Subic Bay vào lúc 5 giờ chiều, yêu cầu mọi người chuẩn bị chờ lệnh lên bờ. Khoảng 4giờ 30, một Thiếu Tá HQ Mỹ thuộc Hạm đội thứ 7 đến gặp các tướng lãnh VN và yêu cầu hạm đội di tản thi hành những điểm như sau :  

1.         Ðể tránh trở ngại ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Phi Luật Tân, quốc kỳ VNCH trên các chiến hạm  phải được hạ xuống, các danh hiệu HQVN phải được xóa bỏ.

2.       Tất cả vũ khi các loại, trừ những khẩu đại bác được gắn trên pháo tháp, và đạn dược đều phải liệng xuống biển trước khi tiến vào hải phận Phi Luật Tân. 

3.        Hải Quân Mỹ sẽ phụ trách việc xóa bỏ các tàn tích VNCH trên các chiến hạm VN và chuyên chở những người dân di tản lên bờ căn cứ  Subic Bay của HQ Hoa Kỳ.

Sau đó, lễ hạ quốc kỳ VNCH được cử hành ngay trên các chiến hạm. Bài quốc ca Việt Nam được trỗi lên qua loa phóng thanh, tất cả dân, quân cán chính trên tầu đều đứng nghiêm mắt hướng nhìn lên kỳ đài trên đỉnh chiến hạm trong lúc lá cờ vàng ba sọc đỏ được từ từ kéo xuống để lại trong lòng mọi người một niềm tủi hận, có nhiều quân nhân đã không cầm được nước mắt. Lá quốc kỳ được xếp lại và trao cho Trung Tá Hùng CHT chiến hạm lưu giữ làm kỷ vật danh dự.   

Khoảng gần 5 giờ, đoàn chiến hạm VNCH được lệnh dừng lại ngoài khơi, cách bờ đúng 20 hải lý và bỏ neo để thi hành những chỉ thị đã nêu trên. HQ Mỹ cho ba bốn chiếc tàu nhỏ chạy tới sát từng chiến hạm VN, dùng máy spray sơn phủ lên những danh hiệu, số hiệu HQVN trên các mũi tàu. Và chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ, hơn 50 chiến hạm HQ Việt Nam đã biến thành một đoàn tầu vô danh màu xám. Rồi sau bữa cơm chiều, mọi người được động viên làm công tác giải giới chiến hạm. Cả ngàn vũ khí cá nhân và cộng đồng được ném xuống biển sâu. Tiếp theo là giải tỏa kho đạn dưới hầm tàu, một công việc khá nguy hiểm và cực nhọc. Trước hết, những chuyên viên đạn dược HQ phải tháo gỡ hết đầu nổ (detonateur) trên đầu đạn đại bác đủ cỡ từ 37, 40 đến 75 ly, sau đó chuyền tay nhau từng viên đạn từ hầm tầu lên boong tầu và liệng xuống biển. Tất cả mọi người (trừ đàn bà, con nít) đều phải luân phiên làm công việc này từ lúc 8 giờ tối cho đến gần một giờ sáng mới hoàn tất. Tôi thấy ông Trung Tướng Thắng cũng đứng trong hàng tiếp tay chuyển từng viên đạn nặng trĩu ném xuống biển như mọi người, thật xứng danh một vị tướng lãnh đã nổi tiếng kỷ luật và trong sạch của QLVNCH. 

             Sáng ngày 5 tháng 5, lúc 9 giờ , HQ Mỹ thông báo : kể từ giờ phút này, tình trạng mọi người VN trở thành dân tỵ nạn “refugees” nên phải trút bỏ hết quân phục VNCH cũ và mặc thường phục. Ai không có quần áo dân sự sẽ được HQ Mỹ cấp cho một áo thung “T shirt”, một quần ống chân voi HQ và một đôi dép nhật bản. Mọi người sẽ được các tàu đổ bộ kiểu LCVP, LCM chở vào bờ theo thứ tự từ các tướng lãnh, nhân viên cao cấp chính phủ trở xuống. Gia đình tôi được lên bờ vào lúc 11 giờ. Mọi người được đưa tới một khu lều nhà binh được dựng trên bãi cát. Sau khi từng gia đình thu xếp chổ tạm trú xong thì được hướng dẫn đi ăn ở “dining hall” của binh sĩ HQ õ rồi trở về lều chờ di chuyển đi đảo GUAM hay đảo WAKE bằng phi cơ C130 của KQ Mỹ. Khoảng 2 giờ chiều thì xe bus HQ đến đón chúng tôi ra phi đạo để bay đi Guam. Nhìn chiếc vận tải cơ quen thuộc mà KQVN đã bay từ đầu thập niên 70, nhớ mỗi lần bay từ Ðà Nẵng, Phan Rang về TSN hành khách được ngồi ghế vải hai bên, nay lòng tàu trống rỗng như một “open bay”. Mọi người được xếp ngồi bệt xuống sàn tàu theo hàng ngang 12 người một hàng, người ngồi hàng sau ôm lưng người ngồi hàng trước, cứ mỗi mười hàng có một sợi dây cable mắc ngang thân tàu để có chỗ bấu vào cho khỏi bị đẩy ra đằng sau khi tàu chạy trên phi đạo lúc cất cánh. Hành lý được xếp trên một “pallet” ở phía đuôi phi cơ. Tôi ước lượng mỗi chiếc C 130 chở lối 150 người. Con tàu chở chúng tôi airborne lúc 2 giờ 45 . Tôi hồi tưởng lại hồi đi du học Hoa Kỳ mặc quân phục lon lá mũ mãng, được kính nể và bay trên phi cơ hàng không dân sự 707 đầy đủ tiện nghi, nay cũng hành trình sang nước cờ hoa lại bị đối xử như một người di dân mất nước theo chương trình nhân đạo người ta gọi là để tránh “bloodshed” ! “thôi đành nhắm mắt đưa chân, để (thử)xem con tạo xoay vần đến đâu”(11). Sau hơn 2 tiếng bay, chiếc C130 chở chúng  tôi đáp xuống GUAM lúc 5 giờ 30 PM. Cũng lại một trại lều nhà binh trên bãi cát như ở Subic Bay nhưng ở đây rộng lớn hơn nhiều và được tổ chức quy mô với các văn phòng hành chánh của cơ quan an ninh , sở di trú ngoại kiều, phòng thông tin, nhà băng (bank) cùng hàng chục nhà ăn, nhà tắm, nhà vệ sinh công cộng. Gia đình tôi chiếm 4 cái giường vải trong một căn lều ở gần cuối trại. Hai người láng giềng nằm kế bên tôi là linh mục Cao Văn Luận và ký giả Tô Văn (báo Chính Luận). Việc đầu tiên tôi làm ngay là dẫn hai con tôi đi tìm phòng tắm, tắm gội và thay quần áo sạch sẽ vì đã hơn 4 ngày lênh đênh trên biển không có chỗ tắm. Mỗi phòng tắm tập thể có một dẫy 10 cái hương sen (shower) ø chung quanh được che bởi một lớp tôn và chỉ có một lối vào. Ðến phiên vợ tôi tắm, tôi phải đứng gác ngoài cửa để chặn không cho các anh đực rựa vào tắm. Về lều, mỗi gia đình nhận một phiếu hướng dẫn những thủ tục hành chánh phải làm trước khi được ghi tên vào danh sách xin nhập cảnh Hoa Kỳ và chọn nơi cư trú. Phải mất hai ngày trời gia đình tôi mới xong các tờ khai an ninh, phiếu tiểu sử cá nhân, rồi được lăn tay cấp một chứng minh thư “I- 94”. Sau cùng phải đến “Infirmary” để được khám sức khỏe tổng quát, ai có bệnh sẽ được gửi đến bệnh viện điều trị. Những người khỏe mạnh được ghi tên chọn nơi định cư ở Hoa Kỳ hoặc Gia Nã Ðại hay sang Pháp. Có 4 trại di cư (refugee camp) là Fort Pendleton ở California, Fort Indianatown cap ở Pensylvania , Eiglin AFB ở Florida và Fort Chaffee ở Arkansas. Riêng tôi, vì đã du học ở Lackland AFB, San Antonio, Texas và Eiglin AFB, Florida nên ghi tên xin đi Florida. Trong thời gian chờ đợi, tôi được chứng kiến nhiều chuyện vui buồn, tức cười có, bi thảm có. Hàng ngày, trong những giờ đi ăn , tôi thường có ý tìm kiếm mấy chị em trong gia đình và các bạn bè anh em trong Không Quân. Một hôm, đang ăn trưa bỗng nghe trên loa phóng thanh từ phòng thông tin có lời nhắn tin của mấy anh KQ :”tôi, Th/Tá KQ Lưu Huy Cảnh hiện ở lều số 24 tìm vợ là bà... và các con, ai biết chỉ giùm, tôi xin cảm ơn” và tiếp theo là Th/Tá Nguyễn Sĩ Phú cũng tìm vợ con bị thất lạc. Cảnh “đầu bò” khóa 60 SVSQ, ca sĩ Sĩ Phú là Trưởng Khối CTCT/KÐYC Phan Rang của tôi đều là những SVSQ mà tôi đã huấn luyện căn bản sĩ quan ở TTHLKQ Nha Trang từ 1960 đến 1963. Tôi tìm ngay đến các anh để an ủi và hỏi thăm tin tức nhiều anh em KQ khác. Trong thời gian này có tin chiếc tầu Trường Xuân do ông thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy (12) lái sẽ chở một số dân tỵ nạn muốn trở về lại VN. Mấy anh KQ trẻ của tôi đang thối chí, tuyệt vọng muốn theo tầu Trường Xuân trở về tìm vợ con làm vợ chồng tôi phải can ngăn hết lời mới chịu bỏ ý định đầy phiêu lưu nguy hiểm. Một hôm, tôi thấy một người mặt quần short áo sơ mi khaki chân đi dép sandale, đầu đội mũ scout rộng vành trông y như mấy anh ăng lê thuộc địa ở Phi châu vai đeo máy quay phim, tay xách máy hình đến lều tôi ở tìm gặp linh muc Cao Văn Luận. Tôi nhận ra là bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng, nguyên Bộ Trưởng Bộ Thanh Niên trong chính phủ Nguyễn Cao Kỳ. Tôi học một lớp trung học Nguyễn Trãi Hà Nội với Nguyễn Ðông Mỹ là em anh Hồng. Tôi chào và hỏi thăm anh tính đi định cư ở đâu thì anh cho biết là gia đình anh không được vào Mỹ vì anh có hai bà vợ (có hôn thú hợp lệ) mà luật pháp Hoa Kỳ không cho phép người dân được quyền có hai vợ. Anh đang làm thủ tục xin đi Canada. Linh mục Cao Văn Luận nói ông đã hoàn tất giấy tờ chờ ngày đi Pháp. Sau này gặp lại Nguyễn Ðông Mỹ ở Oklahoma City, tôi mới biết là anh Hồng sau khi được nhập cảnh Canada đã phải làm đơn xin đặc miễn ngoại lệ và được chính phủ Canada làm một cái “bill” đặc biệt đưa qua Quốc Hội xin chấp thuận mới được định cư ở Montreal. Một chuyện làm người Mỹ ngạc nhiên là dân  đánh cá làng Phước Tỉnh được hạm đội 7 Mỹ vớt và chở tới GUAM, khi khai tiền bạc, tài sản mang theo, nhiều gia đình có cả ngàn lạng vàng. Lúc mấy người khệ nệ khiêng mấy cái túi nhà binh chứa đầy vàng đổ ra để cân và tính thành tiền dollar làm mấy nhân viên nhà băng và an ninh sợ quá vội kêu MP đến canh gác và đuổi tất cả những người khác trong phòng ra ngoài. Hỏi ra mới biết là vào giờ thứ 25, các ông đánh cá chở người tỵ nạn (dân có tiền và người Tầu Chợ Lớn) ra hạm đội thứ bảy đòi mỗi đầu người phải trả 10 lạng vàng và họ đã chở hàng mấy trăm người như vậy nên thâu được rất nhiều vàng, sau cùng chính họ cũng xin tỵ nạn và được ham đội Mỹ cứu đi luôn. Vì những anh đánh cá này không biết tiếng Anh nên mấy ông linh mục Thiên chúa giáo phải đứng ra “co-sign” bảo lãnh, mở trương mục gửi tiền ngân hàng cho các con chiên của mình. Một chuyện khôi hài nữa xảy ra ở trại Asan. Các bạn từng ở trại tỵ nạn GUAM chắc còn nhớ có hai khu : Asan là khu nhà có tiện nghi, được dành cho gia đình các SQ cấp Tướng, các Tổng  Bộ Trưởng trong chính phủ VNCH và một số nhỏ SQ cấp Ðại Tá, còn những người khác ở khu trại lều trên bãi cát gọi là trại OROTE POINT. Nghe nói mấy bà vợ các ông cựu tướng lãnh đã rủ nhau biểu tình trước Ban chỉ huy trại tỵ nạn phản đối nơi ăn chốn ở thiếu tiện nghi và cách đối xử với các bà không tương xứng với chức vụ và cấp bậc của chồng các bà. Tội nghiệp các bà ngây thơ đâu có biết là khi trở thành dân “refugee”rồi thì “ ai cũng như ai”, được người Mỹ đối xử như nhau cả ! 

Gia đình tôi chờ đi Florida mãi cho đến hết tháng 5 cũng chưa được gọi. Tôi lên office hỏi mới biết là hai trại Pendleton và Eiglin AFB đã full, chỉ còn hai nơi Pensylvania và Fort Chaffee là còn chỗ nhận dân tỵ nạn. Tôi bảo vợ tôi Pensylvania trên miền Bắc mùa đông lạnh lắm, mình xin đi Arkansas, gần Texas miền Nam khí hậu ấm áp hơn và có dịp tìm mấy người bạn cố vấn cũ đang làm việc ở Kirkland AFB New Mexico và LacKland AFB San Antonio Texas.  

             Ngày 2 tháng 6 năm 1975,  gia đình tôi được bay vào Mỹ trên phi cơ 707 của hãng PAN AM tới phi trường Little Rock và được nhập trại Fort Chaffee lúc 19 giờ 30 tối, mở màn cho một cuộc đổi đời chưa biết ngày mai ra sao ? 

                                                                         Dallas, Xuân Nhâm Ngọ

                                                                KQ Trần Ðình Giao, De Couteau

 

(1)    Sau là Ð/Tá KÐT/KÐYC Tân Sơn Nhất/SÐ5KQ, hiện ở California.

(2)    Sau là Ð/Tá Trưởng Phòng Kỹ Thuật và KÐT/KÐBTTL/SÐ5KQ

(3)    Dương Hùng Cường là giả truyện “Buồn vui phi trường”, đã được giải thưởng văn chương, kẹt lại VN năm 1975, bị VC bắt đi tù và chết trong trại cải tạo.                                   

(4)    Ð/Tá Lê Minh Luân đã được giải ngũ trước 1975, vẫn bị VC bắt đi tù và chết trong trại cải tạo Sơn La ngoài Bắc.

(5)    DAO = Defence Attache’ Office

(6)    Tr/Tá Ðinh Ðức Bảo ỏ lại VN sau 1975 và chết vì bệnh.

(7)    Ð/Tá Phan Quang Phúc kẹt lại năm 75, bị VC bắt đi cải tạo hơn 10 năm, hiện cùng gia đình sống ở Dala City,California.

(8)    Th/Úy Nguyễn Văn Cử đã cùng Tr/Úy Phạm Phú Quốc thả bom Dinh Ðộc Lập năm 1960, sau ứng cử thành dân biểu Quốc hội Ðệ nhị cộng hòa, kẹt lại bị VC bắt đi tù cải tạo hơn 10 năm, hiện sống với con gái ở San Jose’ California.

(9)    Ch/Tướng Nguyễn Ðức Khánh định cư ở Montreal, Canada, qua đời năm 1996 vì bệnh.

(10)Subic Bay là căn cứ HQ của Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân.

(11)Thơ Nguyễn Du trong truyện Kiều (tôi sửa lại)

(12)Sau trở thành Chủ tịch Ủy ban Yểm trợ kháng chiến của Mặt trận QGTNGPVN.