Make your own free website on Tripod.com
 

 

       

 TỔNG QUÁT:

            Là một trong 7 đơn vị Trung Ương KQ (Bộ Chỉ Huy Hành-Quân KQ- Bộ Chỉ Huy  Kỹ-Thuật & Tiếp-Vận KQ- Trung Tâm Huấn-Luyện KQ- Liên-Ðoàn Kiểm-Báo- Trung Tâm Y-Khoa KQ- Khu Tạo-Tác Tân Sơn Nhất- Sở Hành-Chánh Tài-Chánh KQ, trực thuộc Bộ Tư Lệnh KQ, Liên-đoàn Kiểm-Báo bao gồm hệ thống radar của KQ gồm có 2 Trung-Tâm và 3 Ðài Kiểm Báo.

 I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN: 

            Từ đầu thập niên 60, KQVN bắt đầu xúc tiến việc đào tạo các chuyên viên Hành-Quân và Kỹ-Thuật cần thiết qua các đợt huấn luyện liên tiếp tại các quân trường của KQ Hoa Kỳ. Mặt khác việc xây cất cơ sở và việc thành lập các đơn vị radar cũng lần lượt được thực hiện.

Hệ thống radar được hình thành và phát triển qua những giai đoạn chuyển tiếp sau:

            A-) Giai đoạn trắc nghiệm và huấn-luyện: Một số chuyên viên sau các khóa huấn luyện đầu tiên được bổ nhiệm ở Trung-Ðội Radar Tân Sơn Nhất, đơn vị radar đầu tiên do KQVN thành lập. Thiết bị điện tử của đơn vị kém hiện đại và cũ nên hoạt động của đơn vị phần lớn chỉ giới hạn trong việc trắc nghiệm và huấn luyện. Việc hỗ trợ không-hành (navigation aid) chỉ được thực hiện theo tình trạng khả dụng của phương tiện điện-tử hay khi cần thiết. Nhiệm vụ của đơn vị này chấm dứt sau một thời gian hoạt động ngắn.

            B-) Giai đoạn điều hành chuyển tiếp: Liên-Ðoàn Truyền-Tin Ðiện-Tử được thành lập khoảng năm 1961 với trách nhiệm chỉ huy, điều hành các đơn vị radar đang lần lượt hình thành với số nhân viên được phối trí song song với các thành phần đối nhiệm (counterparts) của KQ Hoa-Kỳ tại cấp đơn vị ở Tân Sơn Nhất, Ðà Nẵng, Ban Mê Thuột, PleiKu, CầnThơ. Hoạt động của các đơn vị radar được cải tiến dần dần theo nhịp độ bổ sung quân số và công tác huấn luyện tại đơn vị. Nhiệm vụ của Liên-Ðoàn Truyền-Tin Ðiện-Tử chấm dứt khoảng năm 1963.

            C-) Giai đoạn trực thuộc các Không-Ðoàn và Căn cứ KQ (1963- 1965): Trong giai đoạn này, các đơn vị radar được sát nhập vào tổ chức của Bộ Chỉ Huy Không Chiến, rồi tới các Không-Ðoàn và Căn-Cứ KQ. Danh hiệu và danh số đơn vị được chính thức qui định trong bảng cấp-số của Không Quân. Do đó, khoảng năm 1964 danh từ Kiểm Báo (KB) bắt đầu được xử dụng trên giấy tờ cũng như trên thực tế. Các đơn vị Kiểm Báo có danh số của các Không -Ðoàn và Căn-Cứ KQ nơi các đơn vị ấy đồn trú hoặc ở gần nhất. Có 2 trung-Tâm và 3 Ðài Kiểm Báo:

·        Trung-Tâm KB 33 đồn trú trong Không-Ðoàn 33 ở Tân Sơn Nhất.

·        Ðài KB 741 đồn trú trong Không-Ðoàn 74 ở Cần Thơ (con số sau cùng là mã số  riêng của đơn vị)

·        Ðài KB 621 có Không-Ðoàn gần nhất là KÐ 62 ở Nha trang.

·        Trung-Tâm KB 41 ở bên ngoài Không-Ðoàn 41 Ðà Nẵng.

·        Ðài KB 921 đồn trú trong Căn-Cứ KQ 92 ở PleiKu.

 Trong giai đoạn 63- 65, việc chỉ huy và điều hành hệ thống kiểm báo khá phức tạp. Tùy theo vấn đề, việc theo dõi và kiểm soát điều hành được thực hiện bởi nhiều cấp bộ khác nhau: Bộ Tư-Lệnh KQ, Bộ Chỉ-Huy Không-Chiến, Không-Ðoàn, Căn-Cứ.

Khoảng cuối năm 1964, hệ thống Kiểm Báo được chính thức xác nhận. Do Huấn-Thị của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, quy định tổ chức Ðiều-Kiểm Chiến-Thuật (Tactical Control System) gồm các phần hành thuộc Lục-Quân và Không Quân. Về phía KQ, hệ thống Kiểm Báo được tổ chức song hành với hệ thống Hành-Quân của KQ, bao gồm các Trung-Tâm HQ Không trợ (ASOC=Air Support Operation Center, sau cải danh là DASC=Direct Air Support Center) đặt tại mỗi Quân-Ðoàn và trực thuộc Bộ Chỉ-Huy Hành-Quân KQ (AOC=Air Operation Center, sau cải danh là TACC=Tactical Air Control Center). Hệ thống Kiểm Báo là phương tiện chủ yếu (tai mắt)trong công tác Ðiều-Kiểm Chiến-Thuật của Không Quân.

            Ðể cải tiến việc thống nhất chỉ huy và điều hành hệ thống, LIÊN ÐOÀN KIỂM BÁO được thành lập đầu năm 1965, thời điểm mà hoạt động kiểm báo gia tăng đáng kể theo nỗ lực và nhu cầu hành quân của Không Quân Việt Nam.

            Bộ Chỉ-Huy Liên-Ðoàn Kiểm-Báo đồn trú trong Căn Cứ Tân Sơn Nhất cạnh Bộ Chỉ Huy của Liên-Ðoàn Kiểm-Soát Chiến-Thuật 505 (505th Tactical Control Group) của Không Quân Hoa Kỳ (USAF)

            Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của Liên-Ðoàn Kiểm-Báo là Trung Tá Hoàng-Ngọc-Bào, nguyên Chỉ Huy Trưởng Trung-Tâm KB 33 TSN, từ 1961.

 II. NHIỆM VỤ:

            Chỉ huy và điều hành hệ thống Kiểm BáoKiểm Báo để hoàn thành các nhiệm vụ cơ bản của hệ thống về các mặt :

A.     PHÒNG KHÔNG

a.)    Kiểm soát toàn bộ không phận VNCH, chống lại mọi sự xâm nhập bất hợp pháp của các phi cơ lạ hay của địch.

b.)    Hướng dẫn phi cơ nghênh cản (Interceptors) lên ngăn chặn và áp dụng mọi biện pháp cần thiết theo tiêu-lệnh hay chỉ thị của tổ chức Phòng-Không Trung-Ương thông qua Trung-Tâm Phòng-không Vùng (1 đặt tại BCH/HQKQ ở TSN cho Vùng Nam và 1 ở Trung-Tâm KB ở Ðà Nẵng cho Vùng Bắc).

Trong cuộc chiến ở VN, KQVN và KQHK đã phối hợp rất chặt chẽ trong nhiệm vụ phòng-không. KQHK dùng phi cơ F-102 và về sau thay thế bằng F-4E. KQVN xử dụng phi cơ F-5E, và tùy theo nhu cầu hay tình trạng báo động, các phi cơ nghênh cản này được đặt túc trực cho hai Vùng Phòng-Không Nam và Bắc tại các phi trường Biên Hòa, Phan Rang và Ðà Nẵng.

B.     ÐIỀU KIỂM CHIẾN THUẬT:

Theo dõi tất cả các phi vụ Hành Quân Chiến-Thuật KQ bằng các đoản-lệnh (frag order) từ Bộ Chỉ Huy Hành-Quân KQ (TACC) và các Trung-Tâm HQ Không-Trợ (DASC) gửi đến bằng viễn-ấn (teletype).

Ðầu thập niên 70, do nhu cầu chiến-thuật, KQVN được trang bị thêm phương tiện hướng dẫn oanh tạc ở cao độ (BOBS=Beacon Only Bombing System). Các đài Hướng-Dẫn được thành lập để hướng dẫn các phi vụ oanh tạc và thả dù chính xác vật liệu ở độ cao của KQ.

C.     HUẤN LUYỆN :

Ngoài việc xúc tiến và kiểm soát điều hành các công tác huấn luyện thường xuyên để duy trì khả năng của đơn vị, Liên-Ðoàn KB phối hợp với Liên-Ðoàn 505 (USAF) thực thi và hoàn thành Kế-hoạch Tự-Lực (Self Sufficiency Plan) của hệ thống kiểm Báo của KQVN theo kế hoạch chung của KQ Việt-Mỹ.

D.  TRÁCH NHIỆM ÐẶC BIỆT VỀ PHÒNG THỦ CỦA CÁC ÐƠN VỊ KIỂM BÁO ÐỒN TRÚ BIỆT LẬP.

Trách nhiệm này rất quan trọng đối với các đơn vị KB ở ngoài phạm vi hay ở xa nơi đồn trú các đơn vị lớn của KQ (Sư Ðoàn, Căn Cứ KQ) như trường hợp TT2KB ở Ðà Nẵng và Ð12KB ở Ban Mê Thuột. Các đơn vị KB này cùng với các đơn vị hay thành phần phòng thủ biệt phái, trên thực tế được tổ chức thành các Yếu-Khu trực thuộc các Tiểu Khu địa phương về mặt phòng thủ. Vì đơn vị KB là đơn vị lớn nhất trong Yếu-Khu, nên trách nhiệm chỉ huy phòng thủ yếu khu được giao cho Chỉ Huy Trưởng đơn vị KB kiêm nhiệm.

Có 2 yếu khu liên quan đến công tác phòng thủ cơ sở Kiểm Báo :

-         Yếu Khu “Sơn Chà” thuộc Tiểu Khu Tiên Sa (Hải Quân) ở Ðà Nẵng, có phạm vi

phòng thủ bao gồm TT2KB Ðà Nẵng.

-         Yếu Khu 3 của Ban Mê Thuột thuộc Tiểu Khu Darlac, có phạm vi phòng thủ bao

 gồm Ð12KB ở Ban Mê Thuột và phi trường L-19 trong thành phố BMT.

 III. TỔ CHỨC :

Từ năm 1965, KQVN phát triển mạnh mẽ với sự thành lập các Sư-Ðoàn KQ, với tổ chức mới bao gồm thêm các Không-Ðoàn, Phi-Ðoàn, hoạt động của KQ gia tăng theo nhu cầu hành quân. Hệ thống Ðiều-Kiểm Chiến-Thuật đã đi vào lề lối hoạt động theo dự trù. Liên-Ðoàn Kiểm-Báo sau khi thành lập, đã được tổ chức như sau:

-  Bộ Chỉ-Huy Liên-Ðoàn

-  2 Trung-Tâm Kiểm Báo: TT1KB ở Tân Sơn Nhất (danh hiệu PARIS CONTROL).

   TT2KB ở Ðà Nẵng (danh hiệu PANAMA CONTROL)

-  3 Ðài Kiểm Báo: Ð11KB ở Bình Thủy, Cần Thơ (danh hiệu PADDY CONTROL),

   Ð12KB ở Ban Mê Thuột (danh hiệu PYRAMID CONTROL), và Ð21KB ở PleiKu

   (danh hiệu PEACOCK CONTROL)

         -   3 Ðài Hướng Dẫn (BOBS) ở Biên Hòa, Ðà Nẵng và PleiKu.

        Quân số : Quân số cơ hữu Liên-Ðoàn Kiểm-Báo gồm khoảng 1000 người (80% so với bảng cấp số) không kể các thành phần biệt phái theo nhu cầu phòng thủ và tổng vụ cho các đơn vị KB đồn trú ở ngoài hay ở xa các Căn Cứ, Sư Ðoàn KQ.

·        Quân số của Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn gồm 60 người.

·        Quân số của Trung Tâm Kiểm Báo theo bảng cấp số gồm từ 250 đến 300 người.

·        Quân số mỗi Ðài Kiểm Báo từ 150 đến 250 người (chưa kể các thành phần phòng thủ hay tổng vụ biệt phái từ Sư-Ðoàn KQ, hay Tiểu-Khu tăng cường cho các đơn vị KB ở xa hoặc ở ngoài phạm vi các Sư-Ðoàn KQ gần nhất như trường hợp TT1KB ở Ðà Nẵng và Ð12KB ở Ban Mê Thuột.

·        Quân số các Ðài Hướng Dẫn (BOBS) gồm 21 người mỗi đài.

A.     BỘ CHỈ HUY LIÊN ÐOÀN KIỂM BÁO:

* Ðồn trú ở Căn Cứ Tân Sơn Nhất trong lãnh thổ của Sư Ðoàn 5 KQ. Ngoài ban Văn Thư Bộ Chỉ Huy, có 5 phòng :

1.      PHÒNG HÀNH QUÂN: Có trách vụ tham mưu và theo dõi hàng ngày các hoạt

động hành quân của các đơn vị Kiểm báo qua ban trực HQ bằng phương tiện liên lạc trực tiếp (hot line) với các đơn vị.

2.      PHÒNG KỸ THUẬT: Trách vụ tương tự như Phòng HQ, nhưng về mặt kỹ thuật, qua Ban Kiểm Soát Bảo Trì và Tiếp Liệu, liên lạc trực tiếp với các đơn vị và với Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật Tiếp Vận KQ để theo rõi, kiểm soát điều hành các công tác bảo trì và tiếp liệu ở các đơn vị kiểm báo.

3.      PHÒNG KẾ HOẠCH VÀ NHU CẦU: Theo rõi việc thực thi kế hoạch Tự Lực

của LÐKB và các kế hoạch nội bộ của Liên Ðoàn.

4.      PHÒNG NHÂN HUẤN: (Personel&Training) Khi thành lập Liên Ðoàn có hai

phòng Nhân Viên và Huấn Luyện riêng biệt, nhưng sau tổ chức thay đổi, hai phòng được sát nhập làm một và trở thành Phòng Nhân Huấn. Phòng NH có trách nhiệm quản trị nhân viên, đảm bảo việc phối trí chuyên viên nhanh chóng tới các đơn vị theo dự trù hay nhu cầu. Theo dõi việc huấn luyện chuyên viên hành quân và kỹ thuật ở cấp đơn vị theo đúng tiêu chuẩn và kế hoạch huấn luyện của Liên Ðoàn.

5.      PHÒNG CHIẾN TRANH CHÍNH TRỊ: Theo dõi việc thực thi công tác CTCT

tại các đơn vị theo đúng chỉ thị hay tiêu chuẩn của Bộ Tư Lệnh KQ, qua các toán CTCT hướng dẫn học tập, công tác Tâm Lý Chiến và Xã Hội ở cấp đơn vị.

*    Công việc của các Phòng đều được thuyết trình cho Chỉ Huy Trưởng Liên Ðoàn vào

mỗi buổi sáng với sự tham dự của các Trưởng Phòng.

·        CÁC ÐƠN VỊ TRƯỞNG TRONG HỆ THỐNG KIỂM BÁO:

Các cấp chỉ huy của Hệ-thống kiểm-báo có nhiệm kỳ tới khi cuộc chiến chấm dứt:

 

                        Chỉ Huy Trưởng LÐKB : Ðại Tá Phạm-Duy-Thân

                        TT1KB /Tân Sơn Nhất : Trung Tá Cung-Ðình-Mộc

                        TT2KB /Ðà Nẵng : Trung Tá Nguyễn-Cầu

                        Ð11KB /Cần Thơ : Thiếu Tá Nguyễn-Bửu-Lộc

                        Ð12KB /Ban Mê Thuột : Thiếu Tá Hoàng-Bá-Mỹ

                        Ð21KB /PleiKu : Thiếu Tá Trần-Quốc-Bàn

                        Ðài Hướng dẫn (BOBS) Biên Hòa : Ðại Úy Võ-Văn-Thông

                        Ðài Hướng dẫn (BOBS) Ðà Nẵng : Ðại Úy Trần-Văn-Hàn

                        Ðài Hướng dẫn (BOBS) PleiKu : Ðại Úy Ðào-Ðức-Vinh

B.       CÁC ÐƠN VỊ KIỂM BÁO:

Hệ thống kiểm báo bao gồm 2 Trung-Tâm Kiểm-Báo, 3 Ðài Kiểm-Báo và 3 Ðài Hướng Dẫn (Bobs)

I.       Trung Tâm và Ðài Kiểm Báo: Nhiệm vụï chung của các Trung Tâm và Ðài Kiểm Báo là kiểm soát không phận (Air Surveillance) và vùng phòng không xác đoán được giao phó (ADIZ=Air Defence Identification Zone), yểm trợ, hướng dẫn những phi vụ chiến thuật, (Tactical Air Control) liên lạc chặt chẽ với các Trung Tâm HQ Không Trợ (Quân Ðoàn), kiểm soát và yểm trợ không hành (Air Radar Control) cho các phi cơ quân sự và dân sự bay trong vùng không phận trách nhiệm.

Tổ chức : Các trung-Tâm và Ðài Kiểm Báo có tổ chức tương tự như nhau, chỉ khác biệt về quân số và máy móc trang bị. Mỗi Trung Tâm hay Ðài Kiểm Báo đều có :

a.       Bộ Chỉ Huy và Ban Văn-thư

b.      Phòng Hành Quân gồm Tổ chức Phòng tối (Dark Room) và Ban Huấn Luyện và Duy trì khả năng.

-         Phòng tối : gồm 3 toán hành quân A, B, C, mỗi toán hướng dẫn bởi một sĩ quan Chỉ Ðạo Trưởng(cấp bậc Ðại-Úy) và một sĩ quan Phụ tá kiêm sĩ quan Nghênh cản Phòng không (Ðại-Úy). Ba toán hành quân A, B, C, luân phiên làm việc 24/24 giờ trong Phòng Tối. Mỗi toán HQ trong Phòng Tối được phân chia theo các ban:

+  Ban Hoạt động và Xác đoán: (M&I=Movement & Identification) theo dõi các phiếu kiểm soát Không-lưu (flight strip) của các phi cơ bay vào vùng cũng như bay ra khỏi vùng không phận trách nhiệm.                     +  Ban không cảnh (Plotter& Scope reading) quan sát các dấu vết phi cơ trong vùng trên máy radar scope (UPA-35).

+  Ban Không Kiểm (Tactical Air Control) xử dụng hệ thống vô tuyến viễn liên trên tần số VHF và UHF để liên lạc, hướng dẫn những phi vụ yểm trợ chiến trường bằng máy Radar và giữ liên lạc chặt chẽ với Trung Tâm HQ Không Trợ (DASC).

+  Ban Kiểm Soát Không Hành (Air Radar Control) theo dõi tất cả các phi cơ quân và dân sự bay trong vùng kiểm soát.

+  Ban Phòng Không Nghênh Cản có nhiệm vụ hướng dẫn phi cơ nghênh cản (F5E) cất cánh nhận dạng (ID) những phi cơ lạ (unknown tracks) và áp dụng mọi biện pháp cần thiết đối với những phi cơ lạ theo tiêu lệnh căn bản về phòng không và chỉ thị của Bộ Chỉ Huy Phòng Không qua trung gian các Trung Tâm Phòng Không Vùng.

+  Ban Huấn Luyện và Duy Trì khả năng : Theo dõi khả năng chuyên môn của các chuyên viên trong mọi vị trí và trách vụ trong Phòng Tối và huấn luyện các chuyên viên HQ và KT theo tiêu chuẩn và kế hoạch của LÐKB

c.       Phòng Kỹ Thuật gồm Ban Bảo trì Radar và Ban Tiếp Liệu”

-         Ban Bảo Trì Radar có nhiệm vụ bảo toàn hiệu năng tối đa của các máy

điện tử như máy dò phương hướng (Direction finder), máy đo cao độ (Height Finder), các Radar scope và hệ thống truyền tin viễn liên VHF, UHF, Hot Line, Tacan, Beacon v.v...

-         Ban Tiếp Liệu phụ trách việc liên lạc với Phòng Kỹ Thuật LÐKB và Bộ

Chỉ Huy KTTV KQ xin bổ xung, dự trữ các bộ phận thay thế cho các máy radar điện tử. Ngoài ra còn một tiểu ban Tiếp liệu tổng quát liên lạc với các Căn cứ hay Sư Ðoàn KQ để lo về quân trang, vũ khí, quân xa, xăng nhớt cho Trung Tâm hay Ðài Kiểm Báo.

II.  Ðài Hướng dẫn (BOBS)

                     Các Ðài Hướng Dẫn BOBS được thành lập từ đầu thập niên 70 do nhu cầu yểm trợ hành quân của KQ trong giai đoạn chót của cuộc chiến. Về tổ chức, các đài này đều trực thuộc Trung-Tâm hay Ðài KB liên hệ nhưng có cơ sở điều hành riêng biệt. Có 3 Ðài hướng dẫn:

1.      Ðài Hướng dẫn Biên Hòa, đồn trú trong căn cứ của SÐ3KQ ở Biên Hòa, trực

thuộc TT1KB Tấn Sơn Nhất.

2.      Ðài Hướng dẫn PleiKu ở ngoài căn cứ SÐ6KQ ở PleiKu, trực thuộc Ðài21KB.

3.      Ðài Hướng dẫn Ðà Nẵng, ở kế cận và trực thuộc TT2KB trên đỉnh núi Sơn Chà Ðà nẵng.

             IV. HOẠT ÐỘNG HÀNH QUÂN VÀ THÀNH TÍCH CÔNG TÁC:

Là một đơn vị Yểm Trợ Hành Quân góp mặt khắp 4 Vùng Chiến Thuật, Liên Ðoàn Kiểm Báo với các Trung Tâm và Ðài Kiểm Báo, đã làm tròn trách vụ được Không Quân giao phó : kiểm soát không phận 24/24, yểm trợ không hành 24/24 cho các phi cơ quân sự cũng như dân sự, ngoài ra còn phối hợp chặt chẽ với Bộ Chỉ Huy Hành Quân KQ và các Trung Tâm Hành Quân Không Trợ, theo rõi, yểm trợ, hướng dẫn những phi vụ chiến thuật trên khắp các chiến trường trong nhiệm vụ bảo vệ Miền Nam Tự Do.

·        TrungTâm Kiểm báo 41 Ðà nẵng năm 1965 dưới sự chỉ huy của Ðại Úy Ðặng Văn Tiếp đã hướng dẫn những phi vụ Bắc phạt của Không Lực Việt Nam mở đầu là phi vụ ngày 5 tháng 2- 1965 do Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ Tư Lệnh KQ hướng dẫn 8 phi tuần khu trục A1H oanh tạc Vĩnh Linh phía Bắc vỹ tuyến 17. Các mục tiêu địch bị tiêu hủy, tất cả phi cơ trở về căn cứ vô sự.

Trong phi vụ ngày 28- 2- 65, TTKB 41 đã hướng dẫn chiếc A1H do Trung Tá Dương Thiệu Hùng Tư Lệnh KÐ 41 lái bị trúng đạn phòng không của địch tại Ðồng Hới bay về tới vịnh Ðà Nẵng nhảy dù xuống biển an toàn và được trực thăng cứu cấp đưa về Tổng Y Viện Duy Tân.

Trong phi vụ ngày 19- 4- 65, hướng dẫn phi vụ oanh tạc căn cứ tiếp liệu của cộng sản Bắc Việt tại Hà Tĩnh do Trung Tá Tư Lệnh KÐ 23 CT Phạm Phú Quốc chỉ huy đã đạt được kết quả như dự trù nhưng phi cơ Tr/Tá Quốc lái bị trúng đạn phòng không của địch đã đâm xuống gần mục tiêu. TTKB 41 đã phối hợp chặt chẽ với TACC/North Sector của USAF, US Navy 7th Fleet, ASOC 1, hướng dẫn các phi cơ rescue cố cứu Tr/Tá Quốc nhưng vì thời tiết xấu (giông bão) nên phải bỏ cuộc. Trung Tá Phạm Phú Quốc được ghi nhận là mất tích.

·        Ðài Hướng Dẫn (BOBS) Pleiku thuộc Ðài Kiểm Báo 921 trong chiến dịch Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972, đã hướng dẫn nhiều phi tuần A37 thuộc Căn Cứ 60 CT Phù Cát(SÐ 6KQ) và Căn cứ 20 CT Phan Rang (SÐ 2KQ) đánh tập thể và chính xác vào vị trí của một trung đoàn quân CSBV làm chúng thiệt hại nặng, la hoảng trên đài phát thanh Hà Nội là Mỹ đã cho B52 oanh tạc trở lại.

Ðài BOBS Pleiku cũng hướng dẫn phi cơ A37 đánh sập cầu Duyên Bình trên Quốc lộ 14 ngăn chặn xe tăng T54 của CSBV từ Campuchia tiến sang uy hiếp Quân Ðoàn II, đã được Tư Lệnh Vùng 2 CT (Tr/Tướng N.V.Toàn) tặng thưởng 200 ngàn đồng.

·        Trung Tâm KiểmBáo 41 trong trận hải chiến ngoài quần đảo Hoàng Sa tháng 4 năm 1974 giữa Hải Quân VNCH do Hải Quân Ðại Tá Hà Văn Ngạc chỉ huy và Hải quân Trung Cộng, đã hướng dẫn phi cơ F5E của KQVN nghênh cản phi cơ MIG 21 của cộng sản Tầu định tấn công các chiến hạm của ta trên đường rút về Ðà nẵng.

·        Ðài BOBS Sơn Chà thuộc TTKB 41 đầu năm 1975 đã hướng dẫn 9 chiếc C130 của SÐ 5KQ đánh một trận hỏa công thật đẹp ở Thu Bồn, tiêu diệt một Trung Ðoàn Việt Cộng đang âm mưu xâm nhập thị xã Ðà nẵng.

·        Ðài Kiểm Báo 621 Ban Mê Thuột là đơn vị Kiểm Báo đầu tiên được tuyên dương công trạng trước Quân-Ðoàn II. Trong trận tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 của Cộng sản Bắc Việt và mặt trận GPMN, Ðài Kiểm Báo 621     dưới sự chỉ huy của Ðại Úy Trần-Ðình-Giao đã tử thủ chống trả mãnh liệt nhiều đợt tấn công của quân VC, bảo vệ được cơ sở không bị địch xâm chiếm. Ðại Úy Giao đã được Trung Tướng Tư Lệnh Quân-Ðoàn II (Tr/TgVĩnh Lộc) thăng cấp Thiếu Tá tại mặt trận và ân thưởng Anh Dũng Bội-Tinh với ngôi sao vàng.

·        Ðài 12 Kiểm Báo Ban Mê Thuột, một lần nữa đã chứng tỏ tinh thần chiến đấu anh dũng quyết tâm bảo vệ cơ sở. Ngày 10 tháng 3 năm 1975, dưới sự chỉ huy của Thiếu Tá Hoàng Bá Mỹ, 310 anh em SQ, HSQ, BS thuộc Ðài 12 Kiểm báo cùng với thành phần phòng thủ biệt phái, đã chiến đấu chống trả mãnh liệt trước sức tấn công của Trung đoàn 25 VC và Tiểu đoàn Ðặc công 401 với chiến xa T54 hỗ trợ, cho đến khi bắn hết viên đạn cuối cùng và bị quân địch tràn ngập.

CHT Ðài là Thiếu Tá Hoàng-Bá-Mỹ bị thương và bị địch bắt.

CHP Ðài là Thiếu Tá Nguyễn-Văn-Phước cửng bị địch bắt.

Các Anh hùng Kiểm báo đã anh dũng đền nợ nước trong trận này gồm :

-         Ðại Úy Trần Văn Ðiệp, SQ Phụ tá Phòng Hành Quân

-         Thiếu Úy Nguyễn Thế Minh, Trưởng ban Truyền Tin

-         Thiếu Úy Trần Hữu Thanh, SQ Chiến Tranh Chính Trị.

-         Các Hạ sĩ quan : Thượng Sĩ Phạm Văn Hoa, Th/Sĩ Nguyễn Văn Phước,

Th/Sĩ Nguyễn Văn Mẹo, Trung Sĩ I Hoàng Trung Chính, Tr/Sĩ Nguyễn Văn Mẹo, Th/Sĩ Ðào Huy Bích (HQ), Th/Sĩ Ðỗ Dự, Th/Sĩ Hàn Bố Quang (TL), Th/Sĩ Trần Văn Khương (BT Radar), Th/Sĩ Trần Quang Tri (Ban VT), Th/Sĩ Y-Braham, Th/Sĩ Y-Wong (Phòng vệ) và một số binh sĩ.  

 

Tổ Quốc ghi ơn các anh !

               

              Chú thích : Tài liệu này được soạn thảo và trình bày do sự đóng góp của cựu   Ðại Tá Phạm-Duy-Thân (CHT/LÐKB), cựu Trung Tá Nguyễn-Cầu (CHT/TT2KB Ðà Nẵng) và cựu Trung Tá Trần-Ðình-Giao (cựu CHT/ÐKB Ban Mê Thuột 1965- 1969)

Hoàn tất ngày 5- 5- 2003